Sinh kế từ tảo: “Mỏ vàng” chưa được khai thác

Nhu cầu về tảo và tiềm năng phát triển là rất lớn, nhưng thời gian qua loài thủy sản quý này vẫn ‘ngủ yên’, chưa thức dậy…

Ở Nhơn Hải, một làng chài ven biển TP Quy Nhơn (Bình Định) có cả một “rừng” rong biển. Từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 7 hàng năm là mùa sinh sản của cá rạn, rừng mai trở thành “nhà bà đỡ” cho đàn cá về đây tập trung sinh sản. Thời điểm này, vùng biển Nhơn Hải phong phú các loài cá như cá bớp, cá bớp, cá vẹt, cá điêu hồng, nhưng nhiều nhất là cá bớp. Tảo mai là thức ăn ưa thích của cá bớp nên chúng lớn rất nhanh, khi gặp lạnh chúng đi từng đàn xuống nước.
Ông Nguyễn Tôn Xuân Sang, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ thủy sản và du lịch Nhơn Hải, cho biết trước khi thành lập tổ chức cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản xã Nhơn Hải để bảo vệ san hô, từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 4. , người dân địa phương đổ xô ra biển khai thác rong, khi đó rong đã già. Hiện thương lái thu mua rong, rau muống với giá 1,3 triệu đồng/kg khô, dù bán bao nhiêu cũng chỉ được khoảng 100 kg khô/năm. Hiện nay, chúng tôi không còn cho phép người dân khai thác tảo để bảo vệ san hô.
Theo Tổng cục Thủy sản, rong mơ là nhóm thực vật bậc thấp sống ở vùng nước mặn, lợ ven biển, cửa sông và hải đảo xa bờ. Tảo và san hô là hai hệ sinh thái quan trọng trong sinh thái biển, tảo được ví như khu rừng sinh thái để các loài sinh vật biển cư trú và phát triển. Tảo đứng đầu chuỗi thức ăn biển, giúp điều hòa môi trường và hệ sinh thái biển như giảm thiểu hiện tượng phú dưỡng; thu giữ và hấp thụ carbon; cải thiện quá trình axit hóa đại dương và bảo vệ bờ biển.

Khai thác tảo biển

“Ngoài việc được sử dụng làm thực phẩm, chất bổ sung cho con người, tảo còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như phụ gia thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, dược phẩm, mỹ phẩm, dệt may, phân bón sinh học, chất kích thích sinh học, bao bì sinh học và nhiên liệu sinh học,” Anh Trần Đình Luân chia sẻ.
Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3.200 km với nhiều đảo lớn nhỏ trải dài trên nhiều vĩ độ. Ngoài ra, sự đa dạng về khí hậu, dòng chảy bề mặt, nhiệt, lượng mưa và độ mặn của vùng ven biển rất thuận lợi cho tảo phát triển. Các loài rong biển Việt Nam cũng chứa hoạt tính sinh học cao, rất có giá trị.
Năm 2013, Việt Nam ghi nhận được 827 loài tảo thuộc 4 ngành: 88 loài tảo lam, 412 loài tảo đỏ, 147 loài tảo nâu và 180 loài tảo lục. Khu vực miền Trung có đa dạng loài rong cao nhất cả nước, cụ thể Quảng Ngãi có 190 loài, Bình Định có 78 loài, Khánh Hòa có 516 loài, Ninh Thuận có 121 loài, Bình Thuận có 210 loài và Phú Yên có 169 loài. .
Trong đó, Việt Nam có 88 loài rong biển có giá trị kinh tế và có thể nuôi trồng trên biển.Theo Cục Thủy sản, diện tích trồng rong biển tiềm năng của Việt Nam là 900.000 ha. Tuy nhiên, đến nay cả nước mới trồng được 10.150 ha nên dư địa phát triển vẫn còn nhiều.

“Có tiềm năng lớn, nhưng thời gian qua, việc nuôi trồng và chế biến rong biển ở nước ta chưa được coi trọng, ít được ứng dụng vào đời sống nên việc phát triển ngành trồng rong biển chậm hơn so với nhiều nước trên thế giới. . Hiện nay, các loài rong biển được nuôi trồng ở Việt Nam có giá trị kinh tế cao là rong sụn, rong nho và rong nho. Năm 2013, Việt Nam xuất khẩu 2.843 tấn rong biển, thu về 4,47 triệu USD. Phần lớn sản lượng rong biển của Việt Nam được dùng làm nguyên liệu chiết xuất agar, phần lớn lượng agar này được xuất khẩu sang Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ. Đã đến lúc “đánh thức” tiềm năng của ngành rong biển”, ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản nhấn mạnh.

Đẩy nhanh khai thác “mỏ vàng”
Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT), quy mô thị trường rong biển thương mại toàn cầu được định giá 16,6 tỷ USD vào năm 2020 và dự kiến ​​sẽ tăng với tốc độ nhanh. CAGR là 10,8% từ năm 2021 đến năm 2028. Nhu cầu thị trường dự kiến ​​sẽ được thúc đẩy bởi sự phát triển công nghệ trong nuôi trồng tảo, cùng với việc tăng đầu tư vào các ứng dụng phân khúc bao gồm thức ăn chăn nuôi và nông nghiệp.

Rong biển tự nhiên ngày càng cạn kiệt do người dân khai thác tùy tiện.

Dự đoán đến năm 2050, nhu cầu lương thực của con người sẽ tăng 70% so với hiện nay, tương đương 5,4 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, năng lực của ngành nông nghiệp không thể đối phó với sự gia tăng nhu cầu lương thực nêu trên trước nguy cơ khan hiếm đất đai, thiếu nước tưới và biến đổi khí hậu. Đó là động lực thúc đẩy ngành rong biển phát triển, do 70% bề mặt trái đất là đại dương nên việc mở rộng diện tích trồng rong biển thuận lợi hơn so với các loại cây trồng trên cạn khác, giúp đảm bảo an ninh lương thực và dinh dưỡng cho dân số thế giới ngày càng tăng. .
Vì vậy, nghề nuôi trồng rong biển hiện đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm phát triển dựa vào tự nhiên. Với hàng trăm loài rong biển, Việt Nam có lợi thế lớn đối với thị trường này. Trong đó, rong sụn được nuôi trồng ở Việt Nam từ những năm 90. Loài rong này được nhập nội từ Philippines và hiện đang được nuôi trồng ở các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định với phương thức canh tác. trên bè ở vùng biển khơi ven biển miền Trung, đầm phá nông, vịnh nửa hở có đáy cát bùn hoặc trồng trong ao.
Ngoài ra, tảo sụn còn được nuôi ở vùng nước nông và cả ở độ sâu 2-3m trở lên, nuôi luân canh trong ao nuôi tôm sú ven biển và nuôi trong lồng lưới treo phao nổi ở vùng đất trống ven biển. Rong sụn có năng suất 20-30 tấn/ha/năm, giá bán khoảng 0,1 USD/kg, lãi ròng khoảng 48 triệu đồng/ha/năm, là nguồn thu nhập triển vọng cho người dân ven biển.
Trước thực tế trên, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phát triển mạnh ngành rong biển, mục tiêu đến năm 2025 đạt sản lượng 180.000 tấn; trong đó, có 170.000 tấn khai thác gần bờ và 10.000 tấn khai thác xa bờ. Đến năm 2030, sản lượng rong biển của Việt Nam đạt 500.000 tấn; trong đó, có 400.000 tấn khai thác gần bờ và 100.000 tấn khai thác xa bờ.
Để đạt được mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ xây dựng cơ chế, chính sách phát triển ngành rong biển; ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình sản xuất cụ thể làm cơ sở quản lý. Triển khai các chương trình, chính sách tín dụng hiện hành cho nông nghiệp, nông thôn, trong đó có ngành rong biển. Tạo điều kiện tốt nhất để các công ty, hộ sản xuất tiếp cận nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh.

Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng nhà máy chế biến rong biển và các sản phẩm từ rong biển. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nuôi trồng, chế biến rong biển trên cơ sở gắn với nhu cầu thị trường và quy hoạch các đối tượng nuôi trồng khác. Chú trọng công nghệ cao để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng từ tảo và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt đầu tư công nghệ bảo quản, chiết xuất để nâng cao giá trị rong biển.

Tổng cục Thủy sản sẽ nghiên cứu xu hướng tiêu thụ và thị trường rong biển thông qua đánh giá nhu cầu rong biển trong nước và thế giới với nhiều lĩnh vực thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp dệt may, in hoa, dược phẩm và mỹ phẩm, năng lượng sinh học. .giúp công ty có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ Hàng (0 items)

No products in the cart.